Sign up

Vài suy nghĩ về giáo dục phổ thông hiện nay

Published on 05:17, 01/20,2012

Vài suy nghĩ về giáo dục phổ thông hiện nay

Ảnh chỉ mang tính minh họa (ảnh: Hưng Hải)

Không cần nói nhiều thì chắc hẳn mỗi một người trong chúng ta, ai ai cũng đều nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trong quá trình xây dựng và phát triển của nhân loại. Mỗi một khu vực, mỗi một quốc gia, hay cộng đồng đều chỉ có thể phát triển đi lên nếu như họ xác định đúng vai trò của công tác giáo dục và đào tạo, và triển khai chúng hợp lý dựa trên các đặc trưng tự nhiên, văn hoá, xã hội, và lịch sử của từng dân tộc, của con người ở nơi đó.

Hiện nay, một trong những quan tâm hàng đầu mà bất cứ một người dân Việt Nam nào khi đề cập đến giáo dục thì theo tôi trước tiên đều sẽ là giáo dục phổ thông. Giáo dục phổ thông gần như gắn liền cuộc sống của mọi người dân, cho mọi tầng lớp lao động, tại mọi vị trí địa lý,... cũng như mọi yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội khác nữa. Tùy thuộc vào mối tương quan, kinh nghiệm, và nhận thức khác nhau mà mỗi người trong chúng ta sẽ có những nhận định và suy nghĩ khác nhau về giáo dục phổ thông.

alt

Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến bao cảnh bạo lực học đường mà các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa: Cảnh học sinh nữ đánh bạn chỉ vì bạn học giỏi hơn mình, đánh bạn chỉ vì cái nhìn "đểu", đánh bạn chỉ vì... muôn vàn những nguyên nhân nhỏ bé khác nhau... Làm cho chúng ta đều có một cảm giác rằng, giới trẻ hiện nay đã mất dần "nhân tính"….

Trách nhiệm giáo dục thuộc về ai? Gia đình, nhà trường hay xã hội? có nhiều người đổ lỗi cho đó là bị tác động bởi "mặt trái của kinh tế thị trường", có người đổ lỗi cho đó là sự bùng nổ của công nghệ thông tin, văn hoá xấu xa trên mạng làm giới trẻ bị ảnh hưởng..v.v...! Thử hỏi, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển hơn chúng ta hàng trăm năm; những nước phát triển công nghệ thông tin trước ta hàng chục thập kỷ... chắc họ cũng bị và còn bị tình trạng này thậm tệ hơn Việt Nam? Xin thưa, không có chuyện ấy đâu ạ! Tôi thấy các nước đó đều có nền kinh tế phát triển, nền giáo dục hoàn hảo mà bây giờ... chỉ có các con cái ông to, bà lớn, các đại gia lắm tiền mới được qua đó học tập ... Vậy thì lỗi ở đâu? Theo tôi, ở cả 3 môi trường: Gia đình - Nhà trường - Xã hội, nhưng trong đó nhà trường giữ vai trò quan trong nhất...

alt

Trước hết, chúng ta cùng nhau xác định ý nghĩa và mục tiêu của giáo dục phổ thông. Ðể đơn giản, tôi xin đặt ra câu hỏi: Kết quả của giáo dục phổ thông là gì? Có phải để học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông có thể sống được ngoài đời? Hay nói một cách nôm na, giáo dục phổ thông giúp gì cho người học sinh sau này?
Ðể trả lời, chúng ta cần phân tích các yếu tố của con người, mà trong đó quan trọng nhất là yếu tố văn hóa xã hội và kinh tế xã hội. Với tầm phát triển về khoa học và công nghệ hiện nay, theo tôi, mục đích của giáo dục phổ thông không phải là đào tạo nên những con người có khả năng làm việc - một cách trọn vẹn - ngoài đời. Bởi trọng tâm giáo dục phổ thông là giúp người học nắm vững các tri thức phổ thông cơ bản, nhưng không phải là đào tạo nên những người có khả năng làm việc theo kiểu "năng lực tư duy (thinking manpower) hay có khả năng tạo nghiệp (entrepreneurial manpower)".
Ðấy cũng chính là cách nhìn của hầu hết mọi người dân Việt Nam. Tuy nhiên, hình như có cái gì đó sai lạc trong "cách nhìn" đó về giáo dục phổ thông của nhiều người hiện nay. Nếu thử đi khảo sát xem mục tiêu việc học của học sinh phổ thông, nhất là học sinh cấp phổ thông trung học, câu trả lời đa phần là để "thi đậu đại học"?!? Thế nhưng, cái cốt lõi của giáo dục phổ thông không phải là để thi đậu đại học, mà là giúp người học "nắm vững các tri thức phổ thông cơ bản" mà thôi.
alt

Trong lý luận dạy học đại học, quá trình dạy học là quá trình mà giáo viên giúp cho sinh viên tự tạo nên những kiến thức cần thiết cho công việc sau này của họ, thì trong lý luận giáo dục phổ thông, chúng ta cũng cần làm sao giúp học sinh hiểu họ cần học các môn học để làm gì; tại sao họ cần học Văn, tại sao họ phải học Toán, tại sao họ phải học thể dục, v.v...? Nếu hiểu được như thế, hơn nữa luôn luôn quán triệt trong tư tưởng như thế, giáo viên sẽ không “lệch con đường" giảng dạy của mình và học sinh sẽ không bị lệch đi "con đường" học tập của mình. Và theo tôi, đó là một nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục phổ thông, bên cạnh nhiệm vụ xây dựng chương trình học và truyền đạt những nội dung bài học cụ thể ở nhà trường.

alt

Thứ hai, cần phải nói đến nội dung, chương trình giáo dục: việc giáo dục và đào tạo ở bậc phổ thông được đặt trên phương châm chính là "mỗi góc cạnh của cuộc sống đều mang tính giáo dục" - nghĩa là giáo dục phổ thông không chỉ để giúp phát triển những kiến thức về khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội - nhân văn, mà còn là để phát triển về tình cảm, ý chí, thể lực,... ở mức độ nền tảng cơ bản cho người học, theo các cấp độ khác nhau. Về chương trình học, để đạt được mục tiêu cung cấp kiến thức và tri thức cơ bản giúp phát triển toàn diện cho học sinh ở mức độ cơ bản, chúng ta cần xây dựng một chương trình học chung, đồng đều và rộng đủ. Chúng ta đã làm được điều này khi đưa đầy đủ các môn học khác nhau vào chương trình giáo dục phổ thông, theo các cấp học khác nhau. Tuy nhiên, điểm hạn chế là chúng ta đưa ra chương trình học ấy sau những phân tích và đánh giá của người làm công tác xây dựng chương trình học, nhưng lại không triển khai hợp lý vào điều kiện cụ thể của nhà trường phổ thông. Chúng ta đã qua chú trọng đến các môn học tự nhiên, mà thiếu tập trung vào những môn học mang tính giáo dục đạo đức, nhân cách con người như Văn, Đạo đức, Lịch sử,... Thử hỏi, các môn Toán, Lý, Hoá có giúp được gì nhiều cho chúng ta trong cuộc đời (trừ những người chuyên về một số ngành có liên quan đến 3 môn đó), trong khi đó, những môn đó lại chiếm quá nhiều thời lượng học tập...Trong đời sống háng ngày, bao nhiêu phần trăm (%) dân số phải áp dụng Toán, Lý, Hoá? Bao nhiêu vấn đề đòi hỏi phải giải phương trình, phải khai căn bậc 2,...?

Sau năm 2015, HS sẽ được học chương trình giáo dục phổ thông mới

Nhin chung chương trình giáo dục còn quá nặng, học sinh suốt ngày cắm đầu, cắm cổ vào học: học chính khoá ở trường, học phụ đạo, rồi mỗi môn học lại có gia sư kèm thêm... nhìn thấy con cháu chúng ta học ngày nay mà thấy thương chúng nó quá, chẳng có thời gian nghỉ ngơi, những bộ óc còn non trẻ đang trong giai đoạn hình thành và phát triển đã phải làm việc quá sức... Nhưng không học thì không theo được chương trình. Vì vậy, cần tính toán để giảm tải chương trình (nhất là các môn học tự nhiên) và tăng thêm thời lượng các môn giáo dục nhân cách con người như Văn học, Đạo đức, Giáo dục công dân, Lịch sử, luật pháp...

Vì thế, việc xây dựng chương trình phân ban, chương trình hướng nghiệp, và việc đưa chúng vào triển khai thực tế dưới dạng các trường phổ thông trung học phân ban, phổ thông trung học hướng nghiệp,... bên cạnh các trường phổ thông trung học thông thường là không thật sự hợp lý.

Lấy đơn cử về chương trình phân ban, hiện nay học sinh khối A phải học rất nhiều về Toán - Lý - Hoá, như là những môn học quan trọng cho việc học đại học các khối ngành tự nhiên, kỹ thuật sau này, nhưng lại quá xem nhẹ các môn học khác, như là các môn Văn - Sử - Ðịa thuộc khối C. Chính điều này đã tạo nên lỗ hổng khá lớn cho những sinh viên học các ngành tự nhiên, kỹ thuật sau này, bởi rất nhiều sinh viên khi học tập, nghiên cứu, và ra làm việc sau khi tốt nghiệp đã gặp phải rất nhiều khó khăn về khả năng trình bày các bài viết, bài luận, khả năng diễn đạt, giao tiếp xã hội,... Ðấy là chưa nói đến việc các môn học đều có mối liên hệ hỗ tương lẫn nhau trong việc hình thành tư duy và phát triển của người học ở bậc phổ thông.

alt

Ðể giải quyết vấn nạn đó, rất nhiều trường đã triển khai thay đổi phương thức đào tạo - theo định hướng của Bộ Giáo dục và Ðào tạo (?). Chúng ta đã đi từ việc chuyển từ các chương trình học không phân ban sang phân ban, rồi lại từ phân ban về lại không phân ban ở nhiều trường trung học phổ thông; hay là chúng ta đã xây dựng lên mô hình các trường phổ thông chuyên, rồi bỏ chuyên, rồi lại chuyên,... Cứ thế, hình như chúng ta vẫn đang lẫn quẩn với các mô hình và phương pháp đào tạo.

Như vậy, chúng ta đang tự thí điểm trên một đối tượng quá quan trọng của xã hội, chúng ta đang thí điểm trên chính sức sống và tương lai chúng ta, và hậu quả hiện nay là khá trầm trọng: Các học sinh khi bước vào môi trường đại học gặp khá nhiều khó khăn, hoặc học sinh tốt nghiệp phổ thông ra ngoài đời không làm việc được (tất nhiên có kèm cả yếu tố về cơ sở vật chất, trình độ khoa học kỹ thuật và nền kinh tế của chúng ta). Hơn nữa, theo cái nhìn chung của khá nhiều người, vấn nạn phải thi vào đại học đã khiến cho các trường khi áp dụng mô hình đào tạo phổ thông thông thường lại có quan điểm của dạy và học theo kiểu "phân ban".

Việc phân chia theo khối để dự thi đại học – đây chính là nguyên nhân làm cho học sinh học “lệch”, chỉ chú trọng vào những môn mà mình sẽ thi đại học, còn các môn khác thì chỉ học cầm chừng, dẫn đến tình trạng, tốt nghiệp THPT nhưng kiến thức “phổ thông” thì lại hổng lỗ chỗ… Để giải quyết vấn đề này, nên chăng cần kết hợp kỳ thi tốt nghiệp và kỳ thi vào ĐH làm một và không phân chia theo khối dự thi đại học như hiện nay nữa; Đồng thời, cũng xoá bỏ luôn việc “phân ban” đang tồn tại trong các trường phổ thông.

alt

Ba là phương pháp dạy học: học sinh phổ thông ở nước ta gần như hoàn toàn bị động trong việc học, vì thế ta phải thay đổi dần quan điểm lấy việc học làm trung tâm thành việc lấy người học làm trung tâm, nhưng ở cấp độ khác hơn so với lý luận đó trong giáo dục đại học; nghĩa là không thuần tuý là cộng tác, nhưng là bán cộng tác, giữa nhà trường và giáo viên với học sinh và gia đình (phụ huynh). Tôi có cảm nhận rằng, chúng ta đang thực hiện phương pháp “nhồi nhét” kiến thức cho học sinh (cứ như là mấy bà buôn gà vịt nhồi nhét cơm nguội cho đầy bụng gà, vịt rồi đem ra chợi bán kiếm lời vậy). Không tạo được cho học sinh phương pháp tự nghiên cứu, phát triển tư duy, tính sáng tạo. Các bài toán toàn ra theo kiểu “đánh đố” học sinh… Còn văn học thì chỉ đi theo lối mòn từ bao đời nay… Nhiều học sinh có cảm thụ, cảm nhận về bài văn, về nhân vật khác với giáo án thì cho là không đúng (có câu chuyện vui kể rằng khi nhà văn Tô Hoài giúp cháu của ông phân tích bài “Dế mèn phưu lưu ký”… Khi cô giáo chấm bài, cho điểm kém và ghi: “Không đúng ý tác giả”). Ngày xưa, tôi rất vui mừng mỗi khi thấy học sinh Việt Nam đoạt giải cao trong các kỳ thi Toán quốc tế, có lần tôi hỏi một chuyên gia toán học của Bộ Giáo dục – Đào tạo, ông ấy cười và nói: “Hầu như các nước không có học sinh chuyên toán như ta, họ tuyển chọn học sinh giỏi từ các kỳ thi, còn ta thì chọn một số em xuất sắc ở các trường chuyên, lớp chọn đưa về “nhồi nhét” thêm kiến thức rồi đưa đi thi… nên không được huy chương mới là chuyện lạ… Cậu cứ nhìn xem, ta được bao nhiêu huy chương quốc tế rồi, nhưng ta đã có được nhà Toán học nào tầm cỡ quốc tế đâu…” !?

alt

Nước Nhật chú trọng như thế nào đến giáo dục, nhưng học sinh của họ so với học sinh Việt Nam nào có hơn gì, tôi thấy có bài toán rất dễ mà nhiều học sinh Nhật làm vẫn sai... Nhưng sao Nhật lại tạo ra được nhiều chuyên gia chất lượng quốc tế như vậy? Tại sao nước Nhật lại phát triển như vậy? Tất nhiên là có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là hệ thống giáo dục, đào tạo của Nhật rất hoàn hảo... Chắc mọi người đã từng nghe, ở Nhật khi học sinh đến trường, giáo viên luôn nhắc nhở: "...các con là những kẻ bất hạnh vì các con sinh ra ở một đât nước chật hẹp, nghèo nàn, không có tài nguyên thiên nhiên, thường xuyên có thiên tai địch hoạ... một đất nước bại trận trong chiến tranh.... Tương lai của đất nước phụ thuộc vào sự học tập, phấn đấu của các con..." Còn chúng ta thì ngược lại “… Đất nước ta giàu đẹp… rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu… sông biển lắm cá tôm, lại thêm gỗ quí trên rừng, than, sắt, bạc vàng dưới đất…”.

alt

Đến bất cứ trường học nào cũng đều có khẩu hiệu to tướng đập vào mắt chúng ta “Tiên học lễ, hậu học văn”, nhưng tôi có cảm tưởng rằng, chúng ta mới thực hiện được có một vế sau (dù vế đó cũng chưa được tốt), còn vế trước “Tiên học lễ” thì có lẽ bị bỏ rơi, buông lỏng… Các môn học về “lễ” đó thường bị coi thường, học sinh thì không quan tâm (phải tập trung vào các môn văn hoá cần thiết khác), giáo viên thì chán nản… Và hậu quả là ngày nay chúng ta phải gánh chịu tình trạng bạo lực học đường, học sinh vi phạm pháp luật nghiêm trọng, quan hệ thày trò không còn giữ được những nét đẹp truyền thống “Tôn sư, trọng đạo”, “dạy một chữ cũng là thày, nửa chữ cũng là thầy”. Thật xót xa, khi nghe con cháu nói với tôi: “Sao thời của bố mẹ lại có những thế hệ học sinh tuyệt vời đến vậy, ra trường đã mấy chục năm rồi, mà cũng nhớ đến các thầy, cô giáo cũ; bọn con bây giờ học xong là quên ngay thầy cô giáo”.

alt

Thứ tư là vai trò, trách nhiệm của người thầy giáo. Cần nhấn mạnh rằng, vai trò của người thầy là cực kỳ quan trong vì phải làm nhiệm vụ “trồng người”. Tôi còn rất nhớ trong những năm đất nước chiến tranh, khó khăn về mọi mặt, nhưng những hình ảnh thầy, cô tận tụy kèm cặp, bảo ban học trò; chia từng miếng cơm, manh áo với những học trò nghèo, động viên học trò vượt qua khó khăn để học tập… Những hình ảnh ấy luôn là điểm sáng trong tim, trong tâm hồn, không bao giờ phai mờ trong ký ức…. Nhưng trong những năm gần đây, bầu nhiệt huyết “vì học sinh thân yêu” dường như đã giảm đáng kể… Nói ra thì nhiều nguyên nhân lắm, nhưng xin mọi người đừng vội đổ hết trách nhiệm cho những người thầy, người cô kính yêu của chúng ta…

alt

Nghề giáo – là nghề cao quí nhất, chỉ có nghề giáo mới được gọi là “Thầy”, là “Cô”. Đúng là hiện nay có nhiều hiện tượng tiêu cực trong đội ngũ những người làm công tác giảng dậy; có thày, cô ở chỗ này, chỗ nọ làm hoen ố phẩm chất tốt đẹp của người giáo viên… Nhưng về cơ bản, đa số các thầy, cô vẫn giữ vững được phẩm chất trong sạch, vẫn lên lớp với trái tim, nhiệt huyết nghề nghiêp. Đất nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, ngoài những thành tựu đã có được, thì chúng ta cũng cần phải chấp nhận “mặt trái” của nó tác động vào từng con người và từng mối quan hệ xã hội, trong đó có nghề giáo. Tại sao các ngành nghề khác, các lĩnh vực khác có thu nhập cao hơn mà lại đòi hỏi nghề giáo phải “trong sạch” theo cái kiểu “ăn sư, ở phạm”? Nói như vậy, không phải là khuyến khích các nhà giáo “tiêu cực” mà muốn nói lên rằng, so sánh mức thu nhập trong xã hội hiện nay thì nghề giáo (theo tôi) có lẽ là một trong những nghề có thu nhập thấp nhất. Chúng ta ai cũng biết “vật chất quyết định ý thức”, khi “vật chất” chưa đảm bảo thì “ý thức” sẽ như thế nào rồi, cũng như các cụ nhà ta thường nói “có thực mới vực được đạo”…… Vì vậy, không có gì tốt hơn là tăng lương cho đội ngũ những người làm công tác giảng dạy, đồng thời phải loại bỏ ngay những người không còn đủ năng lực, phẩm chất ra khỏi ngành, có như vậy, các thầy cô mới yên tâm mà dốc “bầu tâm huyết” cho “học sinh thân yêu”…. Đang viết bài này thì anh bạn tôi qua chơi, biết tôi đang luận bàn về chủ đề giáo dục… anh liền tâm sự : “Anh biết không, bố em làm Hiệu trưởng một trường THPT hàng chục năm nay, mà chưa bao giờ có đủ tiền cho gia đình đi nghỉ mát một lần…”… Ôi, câu nói của anh làm tôi cảm thấy nao lòng đến vậy!!!

alt

Người thầy giáo xưa nay được hưởng tình cảm “tôn sư trọng đạo” là do trách nhiệm xã hội giao cho họ. Họ có trách nhiệm dạy dỗ con em, quản lí, truyền thụ kiến thức, đánh giá học sinh, cho điểm, phê học bạ, nhận xét về hạnh kiểm, những công việc nghiêm túc, thiêng liêng, có ảnh hưởng đến tương lai của người học và cả thế hệ trẻ. Trách nhiệm ấy chẳng những đòi hỏi người thầy phải có trình độ học vấn đáng tin cậy mà còn phải thường xuyên học tập và tu dưỡng đạo đức, trau giồi thái độ ứng xử đúng mực mới có thể hoàn thành được. Đặc biệt, đối với học sinh, những người còn nhỏ dại, chưa trưởng thành, chưa có năng lực tự vệ, thầy, cô giáo phải là người biết chăm chút với lòng thương yêu, khoan dung, đùm bọc, tạo mọi điều kiện để chúng học tập, tu dưỡng tốt, trở thành những công dân tương lai. Đáng tiếc là trách nhiệm ấy đối với một số người lại mặc nhiên bị chuyển hoá thành một thứ “quyền lực” khiến cho họ được “cao cao tại thượng”, có “quyền sinh quyền sát” đối với các sinh linh nhỏ bé, còn học trò chỉ biết vâng dạ để mong được kết quả tốt đẹp.

alt

Trong mô hình dạy học cũ lấy thầy giáo làm trung tâm, người thầy là kẻ độc tôn tri thức, là người đại diện cho văn hoá, truyền bá văn hoá, lễ nghĩa, học trò chỉ được quyền nghe chứ không dám thắc mắc, thảo luận, hỏi lại, vì như thế là hoài nghi trình độ học vấn của thầy, có thể chuốc lấy bất lợi. Người thầy trở thành niềm sợ hãi đối với học trò. Dần dần chỉ có truyền thụ một chiều, thụ động, không có giao lưu, đối thoại, quan hệ thầy trò mất dân chủ, thiếu khả năng đào tạo một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo. Do dựa vào quyền lực không ít thầy, cô nảy sinh những tính xấu, họ không có sự tu dưỡng chuyên môn và đạo đức tương xứng. Cũng do độc tôn cái “đạo” của mình có thầy, cô giáo nói xấu, khích bác đồng nghiệp sau lưng. Cái gọi là “tôn sư trọng đạo” trong thực tế vừa có phần tích cực lại vừa có phần tiêu cực, nó đánh mất vai trò chủ động của chủ thể học trò và nhiều khi làm cho người thầy ngộ nhận về bản thân. Quan hệ thầy trò kiểu đó là sản phẩm của tư tưởng giáo dục cũ, đã tỏ ra lỗi thời.

alt

Ngày nay, với phương tiện truyền thông đa dạng, đặc biệt là internet, ông thầy không còn là người độc quyền tri thức như trước; mặt khác tư tưởng giáo dục đã thay đổi, học trò không phải là cái bình chứa để cho thầy, cô rót kiến thức vào, mà là những chủ thể tự kiến tạo tri thức cho mình dưới sự hướng dẫn của thầy, cô. Vai trò người thầy trong nhà trường mới đã thay đổi. Quan hệ thầy trò bây giờ chủ yếu là quan hệ hướng dẫn, hợp tác, đối thoại, giúp học trò hình thành tri thức và nhân cách. Nó đòi hỏi ở người thầy nhiều hơn, cao hơn về kiến thức cũng như đức độ. Phương tiện truyền thông, internet hiện đại cũng mở ra nhiều khả năng hơn bao giờ hết cho việc tự học, trau giồi, hoàn thiện kiến thức của thầy. Nhưng đáng tiếc là sự nghiệp đào tạo giáo viên lượng chưa đi đôi với chất, nhiều thầy, cô chưa đáp ứng được yêu cầu cao đó, làm cho học sinh giảm sút tình cảm “tôn sư trọng đạo”.

alt

Nhiều người có dịp ra nước ngoài, thấy cách xưng “em”, “con” của học sinh ta đối với thầy mất bình đẳng quá, muốn bỏ hẳn đi để xưng “tôi” như mấy nước đó. Nhưng thiết nghĩ vấn đề chủ yếu không nằm ở cách xưng hô, mà ở mô hình giáo dục cũ. Cách xưng hô nằm trong hệ thống “xưng khiêm hô tôn” của văn hoá dân tộc. Vấn đề là mau chóng thay đổi thực sự mô hình giáo dục cũ để nâng cao vị thế chủ động, sáng tạo của học sinh.

Trong mấy chục năm gần đây, khi cơ chế kinh tế thị trường được xác lập trong xã hội, nhà trường cũng trở thành một không gian thương mại. Các trường luyện thi mọc lên như nấm, trường dân lập với cơ chế kinh doanh mở ra rầm rộ, quan hệ mua bán kiến thức, bằng cấp dưới nhiều hình thức lan tràn, mức độ đóng góp dưới nhiều danh nghĩa của phụ huynh, học sinh ngày càng gia tăng, rồi chính ngành giáo dục cũng chủ động quy định gia tăng học phí hàng năm, mối quan hệ thầy trò dần dần ít nhiều có biến chất. Nhiều nơi nhà trường thành cái chợ mua bán kiến thức, tình cảm “phong bì” hầu như trở thành quan hệ phổ biến từ trên xuống dưới. Địa vị người thầy trở thành nhếch nhác.

alt

Trong kinh tế thị trường nghề nào nuôi sống được người, nghề ấy mới được kính trọng và được yêu chuộng, ngưỡng mộ. Giáo dục là một nghề, nghề thầy giáo phải đủ sống, được kính trọng trong xã hội thì mới mong người thầy yêu nghề. Một người đã phải tìm thêm việc khác để tự cải thiện đời sống của gia đình thì liệu họ có yêu nghề và làm tròn chức phận mà xã hội giao phó? Khi người ta đã yêu nghề thì người ta nhất định yêu đối tượng giáo dục của họ, yêu công việc của họ, thiết tha đổi mới nó cho có hiệu quả xứng đáng với địa vị người ta có được, vì không muốn đánh mất nó. Lời của Các Mác nói người ta phải có cơm ăn, nhà ở, đảm bảo điều kiện tái sản xuất chính mình rồi mới làm các hoạt động tư tưởng, học thuật vẫn đáng cho chúng ta, những người duy vật suy nghĩ. “Không phải ý thức quyết định đời sống, mà chính đời sống quyết định ý thức”.

Nghề thầy giáo là một nghề đặc biệt, nghề dạy người, dạy làm người. Nghề này đòi hỏi người thầy, cô phải luôn luôn gương mẫu để làm gương cho học sinh. Gương mẫu trong dạy học, trong giờ giấc, trong ăn mặc, nói năng, cư xử. Nghề thầy không phải nghề kinh doanh làm giàu. Xưa nay không ai giàu có vì làm thầy. Dù có khó khăn người thầy bao giờ cũng giữ vững đức độ. Hạnh phúc của người thầy là được học sinh yêu mến, tin cậy, coi là chỗ dựa tinh thần của các em trong bước trưởng thành.

alt

Xây dựng hình ảnh mẫu mực là đòi hỏi của nghề thầy và của mỗi người thầy. Để hình ảnh người thầy được tốt đẹp, người thầy còn phải thường xuyên giao tiếp với trò, gương mẫu tiếp thu những nhận xét của trò. Đã có một thời trong nhà trường chúng ta thực hiện việc học sinh đánh giá thầy cô hàng năm. Học sinh đánh giá thầy, cô X dạy hay, dễ hiểu, thầy, cô Y dạy khó tiếp thu; thầy, cô Z uống bia, rượu trong giờ lên lớp, thầy, cô N hay nói tục, mắng mỏ... Cách làm đó thực sự có tác dụng giúp thầy cô tự đánh giá, điều chỉnh tư cách và phương pháp dạy học. Gần đây hình thức đó không được tiếp tục và không vận dụng trong mọi nhà trường. Cùng với việc thực thi đổi mới quan niệm và phương pháp dạy học, tôi cho rằng chủ trương học sinh, sinh viên đánh giá thầy, cô là một chủ trương có thể giúp xây dựng quan hệ thầy, trò mới, dân chủ, lành mạnh, tạo dựng hình ảnh đẹp về người thầy.

alt

Đất nước ta có được “vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không” phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau, nhưng trong đó sự nghiệp giáo dục giữ vai trò quyết định.

Không phải nhà nghiên cứu phê bình, tôi nghĩ thế nào thì viết vậy, có điều gì chưa đúng xin được lượng thứ và mong các thầy, cô, anh, chị chỉ bảo thêm.

 

alt

 


Vì sao người ta yêu nhau?

Published on 03:57, 01/20,2012

Vì sao người ta yêu nhau?

 

Chúng ta không thể sống mà không có tình yêu thương của người khác. Sống vì người khác sẽ làm cho cuộc đời thêm trọn vẹn. Mỗi nhịp đập của trái tim, mỗi hơi thở và mỗi suy nghĩ nhỏ nhoi đều là một phần của tình yêu được chia sẻ cùng người khác.

ty_12

Ngày qua ngày, tình yêu hiện hữu trên khắp thế gian, từng phút từng giờ, từng hơi thở từng nhịp đập, từng ánh nhìn từng cái nắm tay. Người ta vui sướng, người ta đam mê, người ta mơ mộng. Những câu chuyện tình rực rỡ, có khi sáng và trong như những tia nắng mới, có khi giản dị như một cốc cafe, có khi trầm buồn và thầm lặng như bài ca trên phố cổ.

alt

Chiều muộn, tôi ngồi vắt vẻo trên bậc thềm nhà, tay cầm ly cà phê, lơ đãng ngắm nhìn ánh đèn đường vàng vọt và những đôi bạn trẻ, tay trong tay, ngọt ngào và giản dị. Tôi nghĩ, “Người ta yêu nhau”.
Phải, người ta yêu nhau.
Nhưng để làm gì?

alt


alt
Người ta yêu nhau để ở bên nhau, để chở che, chăm sóc lẫn nhau. Vì người ta yêu nhau, người ta muốn chia sẻ tình yêu của mình, trong màn sương mai phơn phớt hay trong tiếng gió reo trên những đỉnh cây. Người ta yêu nhau không biết đêm, ngày, bóng tối hay ánh sáng. Tình yêu là một điều diễn biến liên tục, chẳng biết khi nào sẽ dừng lại. Nhưng những khoảng khắc tưởng như vô hình và nhẹ bẫng ấy, đôi khi lại là điều chúng ta phải tìm kiếm cả cuộc đời …

alt
Người ta yêu nhau, có thể đơn giản chỉ là để trong một buổi chiều đầy gió, có người uống ly nước phía đối diện, ăn cái bánh phía đối diện, ánh mắt âu yếm, đôi môi mỉm cười, và tâm hồn luôn sẵn sàng sẻ chia …

alt

Tình yêu là hơi thở, là nhịp đập trái tim, là con người thật, không màu mè, không lừa dối. Tất cả chúng ta đều cần sự âu yếm, tất cả chúng ta đều cần ai đó nghĩ đến mình, quan tâm đến mình, có điều chúng ta có bộc lộ nhu cầu đó ra hay không.

alt

alt
Người ta yêu nhau, có thể đơn giản chỉ là để trong một buổi chiều đầy gió, có người uống ly nước phía đối diện, ăn cái bánh phía đối diện, ánh mắt âu yếm, đôi môi mỉm cười, và tâm hồn luôn sẵn sàng sẻ chia …

alt

 


Tết Nguyên Đán

Published on 20:51, 01/18,2012

Tết Nguyên Đán


 

Chữ Tết Nguyên Đán mang các nghĩa: Tết do chữ Tiết, có nghĩa là ngày lễ; Nguyên có nghĩa là bắt đầu; Đán có nghĩa là buổi sớm mai.

Vậy Tết Nguyên Đán là ngày mở đầu cho một năm mới với nhiều hy vọng và may mắn mới.

Đúng ra phải dùng cả ba chữ Tết Nguyên Đán, nhưng người Việt ta có tính giản dị nên chỉ gọi Tết hay Ngày Tết. Chữ Tết được dùng trong nhiều thành ngữ như: Ngày Tư Ngày Tết, Năm Hết Tết Đến, Sống Tết Chết Giỗ, Tết Nhất, Chợ Tết, Ăn Tết, Chúc Tết, Thiệp Tết, Quà Tết, Lương Tết, Tết Thầy, Tết Xếp… Ngày Tết mang rất nhiều phong tục cổ truyền và các phong tục này đã thấm nhuần trong lòng người Việt Nam từ xưa đến nay.

alt

Sửa Soạn Tết

Quây quần gói bánh chưng, bánh tét chuẩn bị Tết ở nông thôn. Ảnh: TL Internet

Ngay từ đầu tháng Chạp, ở thôn quê cũng như thị thành, thiên hạ đã bắt đầu sửa soạn Tết. Nhà nhà lo mua heo, bò, gà, vịt để sẵn, rồi còn mua nếp, đậu hầu chuẩn bị gói bánh chưng, bánh tét. Ngoài ra còn muối dưa, nén hành, may sắm quần áo mới, sơn phết trang hòang nhà cửa, lau chùi bàn thờ, mua tranh, pháo, câu đối, cùng các loại bánh mứt, trái cây, trà, rượu… Còn những người thích chơi cảnh, chơi hoa như các loại hoa hải đường, hoa mai, bích đào, thủy tiên… phải lo vun trồng, cắt xén để hoa kịp nở vào đầu Xuân. Đa số người Việt Nam chỉ lo ăn Tết có 3 ngày, tuy nhiên nhiều gia đình, nhất là những gia đình khá giả chuẩn bị Tết trong nhiều tháng trước.

Chợ Tết

alt

Khoảng trung tuần tháng Chạp, phố xá, chợ búa bắt đầu thêm nhộn nhịp, nhất là các buổi

chợ cuối năm càng tưng bừng tấp nập, đông đúc kẻ bán người mua. “Đông như chợ Tết”. Vào

những ngày chợ Tết hàng hóa tràn ngập, nhiều gấp bội ngày thường, nào gian hàng vải, gian hàng bánh mứt, hàng hoa, hàng trái cây, dưa hấu bày bán la liệt. Thấy dưa hấu là thấy Tết. Dưa hấu lềnh khênh, chất cao thành đống. Khách mua cố lựa những trái dưa khi cắt ra ruột đỏ tươi vì người ta cho rằng mua dưa đầu năm lựa đuợc những trái dưa ruột đỏ thắm thi suốt năm gặp tòan những điều may mắn. Còn những người bán thì trưng bày những trái dưa mẫu ruột đỏ au để chiêu dụ khách hàng. Đặc biệt là vào những ngày cận Tết, ta thấy các ông đồ Nho râu tóc bạc phơ gò mình trên những tờ giấy hoa ở vỉa hè hay góc chợ, múa bút viết những câu đối với những nét chữ “Rồng bay, Phượng múa” để bán cho những khách hàng mua về dán ở nhà hay ở bàn thờ.

Đưa Ông Táo Về Trời

Triết lý Tết

Một trong những cổ tục của ngày Tết là đưa ông Táo về Trời. Ông Táo là cái bếp nấu cơm trong mọi gia đình. Người ta tiễn ông Táo về Trời bằng bánh mứt, thèo lèo, trà và pháo. Theo truyền thuyết, cứ mỗi năm vào ngày 23 tháng Chạp, ông Táo cỡi cá chép bay về Trời để “báo cáo” với Ngọc Hoàng mọi chuyện xảy ra dưới trần gian trong suốt năm qua.

Cây Nêu

cayneunngay-tet.gif

Nói đến Tết, theo truyền thống, người Việt nghĩ ngay đến bốn thứ điển hình là Cây Nêu, Hoa Mai, Bánh Chưng với Tràng Pháo:

Ở thôn quê, thiên hạ bắt đầu dựng cây nêu vào ngày 27 tháng Chạp, trễ lắm là vào buổi chiều ngày 30 Têt, nếu tháng thiếu là ngày 29 và hạ nêu vào ngày mồng 7 tháng Giêng. Nêu là cây tre dài chặt tới gốc còn đủ ngọn lá, được dựng ở trước sân với một cỗ mũ nhỏ và một tảng vàng buộc ngang thân, có nơi treo trên ngọn mấy chiếc khánh và bùa chú mà người ta tin tưởng rằng có thể ngăn cản, xua đuổi tà ma xâm nhập vào nhà để quấy phá gia chủ trong những ngày Tết. Riêng ở thành thị vì nhà cửa phố phường san sát không tiện trồng cây nêu nên ta thường buộc cành đa, lá dứa ngoài ngõ. Có nơi thiên hạ rắc vôi ngoài sân, ngoài cổng với hình bàn cờ, cây cung cùng tên bắn ra đằng trước và hai bên, ngụ ý trấn giữ nhà cửa ngăn chận tà ma.

Cu kêu ba tiếng cu kêu,

Trông mau đến Tết dựng nêu ăn chè.

Vật điển hình thứ hai của Tết là hoa mai. Mai vàng là màu sắc đặc thù của ngày Tết, thấy mai là thấy Tết và mai vàng tạo niềm rạo rực, rộn ràng trong lòng mọi người. Cho nên, dù giàu, dù nghèo thiên hạ nhà nào cũng tạo cho được một cành mai. Giàu có, khá giả không những tạo một nhành mai mà còn rước cả một cây mai to lớn đầy hoa về để trang trí nhà cửa trong những ngày Xuân. Còn nghèo khó không mua nổi một nhánh mai tươi thì cũng phải sắm cho được một cành mai giả để cũng có màu sắc Tết cho gia đình.

Tết không mai không ai biết Tết,

Mai không Tết chẳng thiết khoe vàng.

Vật điển hình thứ ba của Tết là bánh chưng. Tùy theo tục lệ từng miền, người ta có bánh chưng hay bánh tét, đó là hương vị không thể thiếu được của mọi gia đình trong những ngày Tết. Bánh chưng, bánh tét thường được ăn với thịt mỡ, dưa hành hay củ kiệu. Trong lúc nhìn mai vàng nở trên cành, nghe những tràng pháo Tết rộn rã mà ăn một lát bánh chưng hay một khoanh bánh tét với một cục thịt mỡ và một miếng dưa hành là nuốt cả một mùa Xuân dân tộc vào tâm hồn ta vậy.

Vật điển hình thứ tư của ngày Tết là pháo. Pháo là âm thanh, âm điệu rạo rực nhất của ngày

Xuân. Nghe pháo nổ là nghe như Tết đang reo vang trong lòng mọi người. Pháo bắt đầu nổ lác đác từ chiều 23 tháng Chạp, ngày đưa ông Táo về Trời. Rồi đến Giao Thừa pháo càng rộ lên cùng một lúc, xen lẫn trong những tràng pháo chuột là những tiếng pháo đại nổ chát chúa, vang rền như những quả đạn pháo kích. Tết đến, từ các cơ sở thương mại cho đến tư gia, nhà nào cũng đốt một vài phong pháo để đón Chúa Xuân. Người ta đốt pháo từ lễ Giao Thừa và vào sáng mồng một, mồng hai, mồng ba. Ngoài ra khi người bạn quý đến “xông đất” chủ nhà cũng mang ra một phong pháo đốt để “nghinh tân” ngược lai, người bạn cũng đốt một phong pháo để “Chúc Xuân” gia chủ. Còn các cơ sở thương mại, những nhà giàu có vào ngày Tết đốt pháo thường có múa lân vì thiên hạ tin tưởng rằng lân đến nhà đầu năm sẽ mang lại thịnh vượng.

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ,

Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh.

Mâm Ngũ Quả

alt

Mâm ngũ quả thường gồm thơm, đu đủ, dừa, xoài, trái sung. Phải thừa nhận rằng đa số nguời Việt Nam, nhất là giới bình dân mang nhiều sự mê tín, dị đoan rất dễ thương. Vì thế mâm ngũ quả chưng bàn thờ trong những ngày Tết người ta thường chọn những loại trái cây có tên tốt, mang ý nghĩa như thơm, đu đủ, dừa, xoài, sung… vì theo họ, những loại hoa quả nầy tượng trưng cho một năm mới đầy thơm tho, tiền bạc trong nhà đầy đủ và cuộc sống sung túc.

Tiệc Tất Niên

alt

Ở thành thi, theo thông lệ, cứ đến cuối năm, thiên hạ thường tổ chức những bữa tiệc tất niên tại các công, tư sở, xí nghiệp, trường học hầu các công tư chức, nhân viên, hoc sinh, sinh viên, thầy cô có dịp họp mặt vui vẻ, chuyện trò thân mật, chúc Tết lẫn nhau trước khi chia tay để về nhà hoặc về quê ăn Tết với gia đình.

Đưa Rước Ông Bà

alt

Vào ngày Tết người Việt Nam ta có tục đưa rước ông bà. Trưa hôm 30 Tết người ta làm lễ cúng tất niên đồng thời đón rước ông bà hoặc người thân quá cố để vong linh họ về sum họp với gia đình trong những ngày Xuân. Qua đến ngày mồng bốn, ta tiễn đưa vong linh ông bà về phương cũ.

Giao Thừa Và Lễ Trừ Tịch

alt

Giao Thừa có nghĩa là cũ giao lại cho mới tiếp nhận. Hết giờ Hợi sang giờ Tý vào lúc nửa đêm 30 Tết là Giao Thừa, thiên hạ làm lễ Trừ Tịch tiễn vị thần năm cũ, đón vị thần năm mới còn được gọi là lễ “Tống Cựu, Nghinh Tân”. Theo cổ tục, người ta tin rằng từ năm Tý đến năm Hợi là 12 năm thì có 12 vị thần Hành Khiển luân phiên nhau, mỗi năm một vị lo trông coi việc nhân gian vì thế mà ta có lễ Trừ Tịch để tiễn đưa và đón các vị thần Hành Khiển của năm cũ và năm mới, đồng thời cầu cúng cả Bản Cảnh Thành Hoàng và Thổ Công Thần Kỳ mà ta có câu tục ngữ “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”.

Lễ Trừ Tịch ở các làng xã còn giữ cổ tục, người ta thiết lập hương án ở trong trung thiên hoặc nơi sân đình, cũng có khi ở ngã ba làng xã với vàng mã, hương, đèn, trầu, rượu, hoa quả, xôi gà tế lễ rất trọng thể. Trong khi tế lễ, họ đánh trống, khua chiêng, đốt pháo vang dậy trong giờ Giao Thừa. Còn các tư gia cũng cúng lễ Giao Thừa trong sân hay trước cửa nhà với mâm lễ vật đặt trên bàn rồi vái tứ phương. Khi tới Giao Thừa chuông, trống ở các Đình, Chùa, Giáo Đường khắp nơi cũng được đánh lên vang rền kèm theo tiếng pháo đón Giao Thừa nổ giòn giã. Tiếng chuông, tiếng trống, tiếng pháo của giờ Giao Thừa là âm điệu truyền thống của ngày Tết.

alt

Những kẻ đã từng nghe những âm điệu nầy trong quá khứ, nay vì hoàn cảnh bắt buộc họ phải xa lìa đất mẹ thân yêu, vào đêm Giao Thừa họ thường gục đầu im lặng để chờ nghe lại âm điệu ngày xưa, nhưng giờ Giao Thừa cứ lặng lẽ trôi qua và những âm điệu âu yếm kia vẫn biền biệt, khiến họ hụt hẫng, lòng họ dâng trào niềm nuối tiếc và uất hận, rồi lòng họ cảm thấy nghẹn ngào và đôi dòng lệ tự nhiên tuôn trào thấm ướt bờ mi. Vì ai mà họ đã đánh mất kỷ niệm thân yêu nầy? Vì ai mà họ phải khóc trong những đêm Giao Thừa xa cố quận?

Về Giao Thừa, nữ sĩ Hô Xuân Hương có hai câu đối như sau:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn,

Kẻo sợ ma vương đem quỷ tới.

Sáng mồng một lỏng then tạo hóa,

Để cho thiếu nữ rước Xuân vào.

Tiền Của Vào Như Nước

Ở thành thị, phố phường ta có tục lệ sau giờ Giao Thừa, những người gánh nước mướn tự động gánh nước đến những nhà trong hàng xóm một vài đôi nước ngụ ý rằng năm mới gia chủ sẽ làm ăn phát đạt “tiền của vào như nước” và gia chủ vui vẻ thưởng tiền rất hậu. Cũng có những người buôn bán, vào những ngày cận Tết đã ân cần dặn trước những người gánh nước thuê đừng quên gánh nước đổ vào nhà cho mình.

Đi Lễ Chùa, Giáo Đường Và Hái Lộc

alt

Sau khi cúng Giao Thừa xong, thiên hạ làm lễ Thổ Công rồi sửa soạn đi lễ tại các Đền, Miếu, Đình, Chùa, Giáo Đường để cầu phúc, cầu may cho năm mới. Ngoài mục đich đi lễ Phật, lễ Chúa, lễ các vị Thần Linh họ còn có dụng ý hái lộc và xin xăm. Hái lộc là một tục lệ nên thơ của người Việt Nam. Người ta tin rằng lộc là lộc của Trời vì thế hái lộc đầu năm sẽ mang lại nhiều may mắn, thịnh vượng cho suốt một năm. Vì lẽ đó mà vào ngày đầu năm thiên hạ già, trẻ, trai, gái chen chúc nhau lên Chùa để hái lộc. Còn xim xăm, đa số người Việt rất tin vào số mệnh nên song song với việc lên Chùa lễ Phật, hái lộc họ còn lên Chùa để xin xăm hầu biết vận mệnh của mình và gia đình mình trong năm mới. Hình thức xin xăm là sau khi van vái Trời, Phật với tất cả lòng thành rồi người ta rút một thẻ xăm trong ống (hoăc lắc cho thẻ xăm rơi ra), đọan mang đến cho người đoán xăm, đôi khi là một thầy bói, đôi khi là một nhà sư để giải đoán dùm những ngụ ý trong quẻ xăm. Hầu hết những người lên Chùa xin xăm vào dịp đầu năm đều ra về với vẻ mặt “vui như ngày Tết” vì những lá xăm của họ đều hứa hẹn những điều tốt đep.

alt

Xông Nhà, Xông Đất

alt

Theo cổ tục, vào đầu năm người đến nhà ai trước nhất là người “xông nhà, xông đất” cho gia chủ và thiên hạ tin rằng đầu năm mới được người vui vẻ, dễ tính, tốt nết hoặc những người có tên như: Thương, Mến, Hùng, Dũng, Đẹp, Giàu, Sang, Phú, Quý, Thịnh, Vượng, Tài, Báu, Lợi, Phước, Lộc, Thọ, Có, Tiền, Bạc, Vàng, Triệu, Tỷ, Thơm… đến nhà trước nhất thì gia chủ sẽ được mọi chuyện tốt lành, đẹp đẽ, thịnh vượng, phú quý, may mắn quanh năm. Còn ngược lại, gặp người khẳn tính, cộc cằn, độc ác, khờ dại, ngu ngơ, đần độn hoặc những người có tên như: Nghèo, Khổ, Xấu, Ghét, Ngu, Hư, Thúi, Chết, Xụi, Thua, Lỗ, Nợ, Nần, Túng, Thiếu, Đau, Ốm, Bệnh, Ghẻ, Chốc, Bại, Xụi, Bần, Hàn, Đói, Rách, Gian, Ác… thì suốt năm gia chủ làm ăn lủng củng, thất bại hay gặp những chuyện vẩn vơ, bực mình…. Chinh vì vậy mà các cụ lớn tuổi hoặc những người còn mang nặng cổ tục rất kén chọn người đến xông nhà, xông đất, thường họ mượn người tốt nết, tinh tình dễ thương, có tên đẹp đến xông đất dùm. Còn trong gia đình, sau khi đi lễ Chùa, Nhà Thờ về là xông đất nhà mình và gia đình thường để cho người tốt nết nhất vào nhà trước.

Theo tục lệ, người đến xông đất đốt một phong pháo và chúc gia chủ mọi điều tốt lành, tùy theo trường hợp, lời chúc có thể:

Nếu gia chủ có cha mẹ già thì chúc “Tăng phúc, tăng thọ”

Nếu gia chủ là nhà nông thì chúc “Phong đăng hòa cốc”

Nếu gia chủ là một nhà công kỹ nghệ thì chúc “Tốt tài sai lộc”

Nếu gia chủ là một thương gia thì chúc “Buôn may, bán đắt, nhất bản vạn lợi”

Nếu gia chủ là một quân nhân hay công chức thì chúc “Mau thăng quan, tiến chức”

Trong trường hợp chẳng may gặp người xấu nết, tính tình cộc cằn hay xui hơn nữa bị một

lão ăn mày đến viếng đầu năm thì gia chủ phải lấy gạo, muối ra vãi tứ phía và cúng vái gọi là

“đốt phong long” rồi chờ một người khác khá hơn đến “tái xông”

alt

Mừng Tuổi Và Chúc Xuân

alt

Một trong những tục lệ đẹp đẽ nhất của người Việt Nam là mừng tuổi ông bà, cha mẹ vào dịp đầu Xuân. Đây là một hình thức hiếu đạo của con cháu đối với công ơn dưỡng dục của các đấng sinh thành đã nuôi dưỡng nên minh mà chỉ Việt Nam mới hãnh diện có cổ tục nầy trên thế giới ngày nay.

Mừng tuổi là mừng ông bà, cha mẹ thọ thêm một tuổi. Sáng mồng một Tết, sau khi ông bà, cha mẹ khăn áo chỉnh tề, con cháu cũng xúng xính trong những bộ quần áo mới, trải chiếu xuống đất lạy 2 lạy đồng thời chúc ông bà, cha mẹ những lời tốt đẹp, hiếu thảo. Ông bà, cha mẹ cũng chúc lại con cháu ngoan ngoãn, thông minh, chóng lớn, học hành mau đỗ đạt rồi cho con cháu những tờ giấy bạc mới đựng trong những phong bì màu đỏ gọi là tiền “lì xì”, có nghĩa là những đồng tiền may mắn.

Ngoài tục lệ mừng tuổi, vào ngày Tết thiên hạ còn có lệ chúc Tết lẫn nhau. Nếu ở xa người ta gởi thiệp, còn nếu ở gần bạn bè, họ hàng thăm viếng và chúc Tết với nhau. Những lời chúc thông dụng là “Phước, Lộc, Thọ”, “An Khang, Thịnh Vượng”, “Vạn Sự Như Ý”, “Sống Lâu Trăm Tuổi”, “Tân Xuân Vạn Hạnh”, “Con Đàn, Cháu Lũ”, “Tiền Vào Như Nước”, “Tiền Rừng Bạc Biển”, “Đa Tài, Đa Lộc”, “Mau Thăng Quan, Tiến Chức”…

Ngoài việc họ hàng, bạn bè thăm viếng chúc Tết lẫn nhau, các nhân viên thuộc quyền ở các Ty, Sở, Đơn Vị vào ngày Tết cũng có lệ đến chúc Tết các xếp của mình. Kèm theo những lời chúc Tết đẹp nhất, họ còn có “quà biếu” cho các xếp họ nữa. Xin hãy nghe bài “Chúc Tết” của nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương:

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,

Chúc nhau: Trăm tuổi bạc đầu râu.

Phen nầy ông quyết đi buôn cối,

Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.

 

 

 

 

Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu,

Trăm, nghìn, vạn, mớ để vào đâu.

Phen nầy ắt hẳn gà ăn bạc,

Đồng rụng, đồng rơi lọ phải cầu.

 

 

 

 

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang,

Đứa thì mua tước, đứa mua quan.

Phen nầy ông quyết đi buôn lộng,

Vừa bán, vừa la cũng đắt hàng.

 

 

 

 

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con,

Sinh năm, đẻ bảy được vuông tròn.

Phố phường chật hẹp người đông đúc,

Bồng bế nhau lên nó ở non.

Kiêng Cữ

Đa số người Việt Nam ta tin rằng việc gì xảy ra đầu năm thì sẽ liên tục xảy ra suốt năm vì thế ta có rất nhiều tục kiêng cữ trong những ngày Tết:

Giông

Giông có nghĩa là xui xẻo, cho nên vào những ngày cuối năm có mượn đồ vật hoặc nợ nần của ai thì phải lo trả vì nếu để sang năm mới người ta đến đòi thì bị “giông”. Vì thế vào những ngày cuối năm, các chủ nợ thường đến đòi tiền các con nợ vì để qua năm mới đến đòi sợ “giông” người vay nợ. Ngược lại, các con nợ Tết đến cũng lo chạy đôn, chạy đáo để thanh toán tiền nợ của mình vì sợ để leo qua năm mới sẽ bị xui và sẽ bị mang nợ suốt cả năm nên ta có câu:

Khôn ngoan đến cửa quan mới biết,

Giàu khó ba mươi Tết mới hay.

Cữ Quét Nhà

Vào ngày Tết người ta cữ quét nhà trong suốt ngày mồng một, mồng hai và mồng ba vì sợ rằng quét nhà sẽ quét hết tiền bạc, của cải và các điều may mắn ra ngoài. Nều nhà có rác, ta chỉ quét sơ và gom vào một xó để chờ hết Tết rồi mới đem đi đổ.

Cữ Quần Áo

Trong những ngày Tết, người Việt ta cữ ăn mặc quần áo trắng hoặc đội khăn trắng vì sợ trong năm sẽ có tang.

Cữ Ăn Nói

Vào những ngày đầu năm, người trong gia đình phải hết sức thận trọng về “lời ăn tiếng nói”, chỉ nên dùng những lời lẽ đẹp và tránh những lời nói không hay như khỉ, chết, đau, ốm hay những lời nói tục tằn, chửi thề… để suốt năm không gặp những chuyện xui xẻo.

Cữ Đánh Con

Vào ngày Tết cha mẹ phải cữ đánh con cho dù rằng vào những ngày nầy con cái “phá như quỷ” cha mẹ cũng đành dằn lòng vì nếu đánh con trong những ngày Tết thì con sẽ bị “huông”, nghĩa là suốt năm con sẽ bị đòn hoài.

Ngoài các điều trên, thiên hạ còn kiêng cữ nhiều thứ khác trong ngày Tết như kiêng cãi nhau, kiêng đánh lộn, kiêng gây tiếng động, kiêng làm vỡ chén bát, ly tách, kiêng tiếng khóc dù là tiếng khóc của trẻ con đòi bú sữa. Ngoài việc kiêng cữ những điều “xấu”, người ta còn phải làm những điều “tốt”, đó là tục lệ đi mua muối đầu năm. Muối tượng trưng cho sự đâm đà, mặn mòi. Nhưng ngược lại ta cữ đi mua vôi vì vôi tượng trưng cho sự bạc bẽo, vong ân, bội nghĩa như ta thường nghe câu “ăn ở bạc như vôi” vì thế dân gian có câu tục ngữ “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”.

Bói Toán

alt

Vào ngày đầu năm người Việt ta thích đi xem bói toán để biết vận mệnh của mình trong năm mới. Bói toán có nhiều cách, như bói Kiều, bói sách, bói tuồng, nhờ thầy bói xem bói dùm… Bói Kiều là lấy cuốn Kiều ra để trên bàn, sau khi thắp hương đèn và khấn vái Nguyễn Du, Thúy Kiều, Kim Trọng rồi người ta lật bất cứ trang nào của Kiều ra xem, những câu thơ sau đây được xem là tốt:

Dưới dòng suối chảy trong veo,

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

Kiều từ trở gót trướng hoa,

Mặt trời gác núi chiêng đà thu không.

Gương nga chênh chếch dòm song,

Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.

Đầu năm mà gặp nước, gặp cầu, gặp vàng thì không có gì may mắn, hạnh phước cho bằng. Nước tượng trưng cho tiền bạc nên ta có câu thành ngữ “tiền vào như nước”, còn cây cầu tượng trưng cho sự thông giao, sự liên lạc, sự đoàn tụ và vàng tượng trưng cho sự giàu sang, phú quý.

Ngược lại những câu thơ sau đây được xem là điềm xấu:

Hàn huyên chưa kịp giãi giề,

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.

Người nách thước, kẻ tay đao,

Đầu trâu, mặt ngựa ào ào như sôi.

Già giang một lão một trai,

Một dây vô lại buộc hai thâm tình.

Hoặc:

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.

Đầu năm bói Kiều mà gặp cảnh gia đình tan nát, phân ly hay gặp cảnh “Sầu đong càng lắc càng đây” như trên thì người ta tin rằng đó là điềm xui xẻo.

Bói sách cũng tương tự như bói Kiều, còn bói tuồng là ngày Tết ta chọn tuồng hát để xem, nếu xem nhằm tuồng kết thúc cốt chuyện bằng sự sum họp, thắng lợi, hạnh phúc, giàu có là điềm may. Còn nếu tuồng hát kết thúc bằng cảnh gia đình tan nát, chia ly, chết chóc là điềm không tốt. Ngoài việc bói Kiều, bói sách, bói tuồng, thiên hạ còn tìm đến các thầy bói để nhờ xem dùm vận mệnh, tình duyên, công ăn, việc làm của mình trong năm mới.

Khai Bút

alt

Vào dịp đầu Xuân, người Việt Nam ta có tục lệ tao nhã khác đó là tục lệ Khai But đầu năm. Khai Bút là năm mới cầm bút viết lần đâu tiên. Những người thường hay viết lách như các cụ đồ, các nhà khoa giáp, các văn nhân thi sĩ, các nhà báo vào dịp đầu Xuân chọn ngày giờ tốt lấy giấy mực ra làm thơ, viết văn, ngâm vịnh và thưởng Xuân.

 

alt

 


Em về cuối tháng chạp

Published on 22:46, 01/16,2012

Em về cuối tháng chạp

alt

Nghe nói, em về cuối tháng chạp 
Thú thật, anh đây rất vui mừng 
Nhiều năm, khi tháng cùng ngày tận 
Anh buồn, chẳng rõ bởi vì đâu! 

Có lẽ nỗi buồn, như kẻ lạc 
Ngày cuối năm, quay quắt nhớ nhà 
Mong em về, tiếng em cười nói 
Cho anh thấy được chút ấm êm!

Tháng chạp chưa về, chưa thấy em 
Gió bấc rít lên, gió lạnh lùng 
Nỗi nhớ mùa đông, anh sợ lắm 
Sợ buồn, sợ lạnh, sợ lung tung …

Em về, hối hả trái tim vui 
Chắc chắn đầu năm, hết bùi ngùi 
Anh dành rượu, bánh, bài thơ cũ 
Tấm lòng dọn sẵn, để mời em

Em về, anh có thêm đốm lửa 
Sưởi ấm đời nhau, cũng rất cần 
Khêu lại ngọn đèn, lâu héo hắt 
Đời anh được ấm, mấy mùa xuân? 

Có em về,  ngày lại nối đêm   
Em  như chim, líu lo êm đềm    
Và hạnh phúc, tìm đâu cho mệt 
Mong tình xuân ấm, mãi hoài… em .

 

Níu xuân thì

alt

Khi năm tháng qua đi 
Trên ngón tay nằm đếm bao lần

làm con gái 
làm đàn bà 
làm người đan sợi nhớ 
Ngón tay em nước mắt biết làm trò 
Bàn chân luôn biết cách giả vờ 
Tìm lại những điều còn mất ngủ 
Bán môi ngoan cho những lần ngạt thở 
Lời yêu anh hiền hơn cỏ tháng tư 
Ai đánh cắp thời gian têm trầu không nhà ngoại 
Chuồn chuồn kim cõng cỏ  trốn mặt trời 
Run một bờ môi  âm ừ biết nói 
Ngẫu hứng đan khăn khi mùa rét qua thời 
Bói tình duyên sim tím ven đồi 
Gặm nỗi buồn bên chiếc hài thêu hoa cũ 
Ngàn xưa hoa cau rụng xuống vườn trầu 
Còn em ngầu hứng tô chút trầm nâu 
Cong cong lưng ong hình dấu hỏi 
Ngửa mặt hỏi trời gió về đâu 
Lời yêu rụng xuống lối vườn trầu 
Nỗi buồn để lại mắt hoa cau 
Luồn kim se chỉ đùa yêu thật 
Thời gian liệu có  níu xuân thì…

 

Cảm ơn em

alt

Cảm ơn em những giấc mơ 
Đẹp như mùa xuân 
Cảm ơn em nói lời ngọt ngào 
Nói lời đam mê 
Cho tôi bơi bơi trên dòng sông thơ mộng 
Cảm ơn  dịu dàng lung linh 
Như ngọn nến hồng thắp sáng tuổi tôi 
Khi tình yêu rất cần bao dung độ lượng 
Cảm ơn lời thư em viết 
(Nhân vật tôi không chết đi thảm thiết) 
Cảm ơn tình bạn đã không bốc cháy 
(Để còn lại hoang tưởng riêng tôi) 
Cảm ơn tình em cần thiết 
(Khi con người đang chuẩn bị chiến tranh) 
Cảm ơn những hẹn hò mộng du 
Một buổi nào ngơ ngác lãng quên 
Chán chường kịp giữ lại tim tôi 
Khi căn phòng mùa đông không còn tranh ảnh 
(Sẽ chẳng có ai, ngoài tôi buồn bã) 
Cảm ơn em 
Cảm ơn mùa xuân em hứa cho tôi 
Cảm ơn, cảm ơn những thật tình 
Và cảm ơn mùa xuân thơ…

 

Mưa tháng chạp

alt

Mưa tháng chạp tỏa xuống con lộ đen 
âm thanh nào thầm vọng 
giữa những sợi tơ nước rơi 
Đòng đòng bong bóng vỡ 
bước chân chiêng chao sướt trên 
những ngọn cỏ ướt liu điu 
chết giấc cơn úa sầu vạn cổ 
Tôi run sợ trước định mệnh 
khốc liệt đang bủa vây 
như màn đêm trước mắt tôi 
phủ lấp nhân gian 
như muốn một thời bão nổi 
Hạt nước lăn tròn dự báo 
những tai ương không thể tránh 
chén đắng nào cho tôi 
khi tôi trút linh hồn vào đôi mắt ấy 
Hơi thở điêu linh 
giữa khoảnh khắc phù du 
vẫn đủ cho tôi nhận ra 
hạnh phúc và đau thương 
Trên cả những điều to tát 
trên cả cứu rỗi hay giải thoát 
là sự dịu dàng còn sót lại

của đôi mắt em

Đừng đánh thức giấc mơ tôi 
trong lúc ngửa mặt lên trời 
hứng những giọt mưa đêm tháng chạp 
với hình ảnh duy nhất 
là đôi mắt em.

alt

 


Tết xưa – Mùa hoa vạn thọ

Published on 12:17, 01/15,2012

Tết xưa – Mùa hoa vạn thọ

Nhập phụ đề video ở đây

Ngày xưa, mỗi độ gần Tết, mẹ tôi vẫn thường hay mua vài chậu bông vạn thọ về chưng trong nhà mấy ngày Tết. Cha mẹ tôi cùng thích loại bông này. Có lẽ vì tên nó mang ý nghĩa một lời chúc tốt lành? Tôi lại không mấy thích vạn thọ, vì cái dáng kém mỹ miều, không đài các của nó. Cha tôi hiểu ý, nên có lần ông gọi tôi đến và dạy rằng:

Tho

- Con à! Vạn thọ tuy kém sắc nhưng lâu tàn, lại vẫn có hương thơm. Mỗi khi ngắm nó, ba liên tưởng đến một sức mạnh đoàn kết tiềm ẩn bên trong mỗi cánh bông. Con hãy nhìn xem, những cánh bông nhỏ của nó quyện chặt lấy nhau, trông giống như những đứa con cùng chung huyết thống, khắng khít không rời nhau. Hương thơm vạn thọ được tạo nên không do vài cánh bông lẻ tẻ, mà do một khối thể nguyên vẹn của nó. Có lẽ vì thế mà mùi thơm của nó ngào ngạt lan xa. Hương thơm của bông vạn thọ tựa như tiếng thơm của một gia đình. Tiếng thơm đó không phải được tạo ra bởi một cá nhân mà bởi toàn thể thành viên sống trong gia đình ấy cùng hi sinh đóng góp vào. Ba má mong sao các con luôn là bông vạn thọ mà ba má yêu thích: Đơn sơ với làn hương thơm khăng khít tỏa lan.

Những lời ba dạy, những lời ba răn đã từng bước theo vết chân thời gian đi vào từng giai đoạn sống trong đời tôi.

alt

Vạn thọ là một cây dễ trồng, dễ chăm, dễ cho hoa và giàu ý nghĩa. Tôi còn nhớ, những năm sáu mươi của thế kỷ trước: Tết về, dọc các làng quê, đâu đâu cũng một màu vạn thọ.


Mặc dù có năm, tiết trời thất thường, các hoa khác như hoa mai nỡ thất thường, nhưng với vạn thọ thì các búp hoa vẫn miên man hết mình, vươn sắc từ những ngày cuối năm đến cuối giêng hai.

alt
Ngày đó chưa có hoa lay ơn, hồng nhung, cúc đại đóa, mai xuân, quất hay những cành đào từ nơi xa gửi về. Vạn thọ được coi là loài hoa chúa xuân. Khoảng chiều 29 – 30 Tết, cả làng rộn rịp. Thường nhà nào cũng có hoa vạn thọ song có nhà hoa nở chưa đều, chiều 30 chạy sang hàng xóm xin vội vài cành cho bình hoa nhà mình đủ đầy.

alt

Chiều cuối năm, tôi thường chọn những cây có hoa bụ bẫm, cẩn thận cho vào chậu rồi bưng để một vị trí thích hợp trong nhà. Trên cành treo đôi thiệp chúc xuân tự làm, dưới gốc rải một lớp xác pháo. Vậy mà ba ngày Tết, sắc xuân ngập tràn từ nhà đến ngõ xóm đường thôn.

alt

Ngoài sự hiện diện như một đặc trưng cho mùa xuân, hai chữ vạn thọ còn có ý nghĩa về mặt tâm linh. Vạn biểu trưng cho sự tốt lành, cát tường, vô số. Thọ thể hiện cho sự sống dài lâu để hưởng phúc lộc. Vạn thọ là mơ ước của nhiều người khi năm mới đến…

alt
Vì thế, Tết người ta có thể không sắm cho nhà mình đủ đầy bánh mứt, rượu thịt nhưng không thể thiếu hoa vạn thọ.

alt

Nhất là trên bàn thờ gia tiên, trang ông táo lúc nào cũng có một bình hoa tươi nở vàng. Rồi người ta mừng tuổi, chúc thọ cho các bậc cao niên cũng thường lấy hình ảnh hoa vạn thọ để cầu mong trăm điều tốt đẹp.

 

Hai chữ vạn thọ đủ nói lên được bao điều về giá trị tinh thần, tâm linh và truyền thống đạo đức, lòng biết ơn của thế hệ cha ông.

alt

Tết cổ truyền của người Việt Nam đã hội tụ đủ đầy những yếu tố tinh thần từ xưa. Mỗi năm, Tết lại về. Dù còn nhiều bận rộn, chiều cuối năm tôi cũng tranh thủ ghé chợ hoa. Đi trong trăm ngàn loài hoa với đủ sắc màu nhưng dường như kí ức của tôi đã lọt thỏm về một vùng quê hun hút năm nào.

alt

Bây giờ, hoa nhiều quá, đẹp quá nhưng toàn các loài hoa lạ. Khách hàng chen lấn, nhoài người vào những hàng hoa trâm anh hồng tía. Không ai đoái hoài từng khóm vạn thọ đứng khiêm nhường, im lặng trước ngàn bóng người qua.

alt

Rời chợ hoa với bình lay ơn trên tay, tự dưng lòng tôi trào dâng một nỗi buồn xa vắng. Trong tôi bất chợt hiện lên hình ảnh từng luống vạn thọ vàng rực khắp xóm năm nào, dù biết đó chỉ còn trong dĩ vãng. Và câu ca dao cô giáo dạy năm nào vẫn còn nguyên vẹn:

Ai ơi dẫu có đi xa

nhớ gieo vạn thọ mười ba tháng mười.

alt

 


1 2 3 ... 160 161 162  Sau»